Bài 2: Những ngôi mộ không tên

Tiếng nổ rạng sáng 1/3/1968 khép lại hải trình của Tàu C235. Nhưng trên vùng núi đá Hòn Hèo, một cuộc chiến khác lại bắt đầu: cuộc chiến sinh tồn giữa thương tích, đói khát của những thủy thủ còn sống và cuộc tìm kiếm âm thầm, nghẹn ngào của những người ở bến đi chôn cất đồng đội giữa mưa đạn càn quét.
Nửa thế kỷ trôi qua, từ những dòng nhật ký ố màu đến các phần mộ chưa gắn tên tại nghĩa trang, hành trình đi tìm danh tính chính thức cho những người lính Tàu C235 cho thấy những dấu vết lịch sử vẫn chưa được nối lại đầy đủ.
Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thợ máy Ngô Văn Thứ là hai người rời C235 sau cùng.
Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân ghi, sau khi cho mọi người xuống trước và kiểm tra lại con tàu, Nguyễn Phan Vinh cùng Ngô Văn Thứ nhảy xuống nước, bơi vào bờ. Nhưng lên được Hòn Hèo chưa phải đã thoát khỏi trận đánh. Khi lực lượng đối phương đổ bộ truy kích, Chính trị viên Nguyễn Tương cùng Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh tiếp tục chống trả. Nguyễn Tương hy sinh tại Hòn Hèo.
Gần sáng, khi lực lượng địch đổ bộ, lùng sục khu vực quanh nơi C235 tự hủy, từ vị trí của nhóm thủy thủ, tiếng súng dữ dội vọng lại. Trong những âm thanh hỗn độn, họ nhận ra tiếng AK và đoán bộ phận của Vinh có thể đã gặp địch. Khoảng nửa giờ sau, tiếng AK không còn.
Mãi về sau những người sống sót mới biết Nguyễn Phan Vinh và Ngô Văn Thứ đã chốt giữ gần nơi tàu nổ để những đồng đội khác rút an toàn. Cả hai đều bị thương khá nặng, ở giữa hai mũi tiến công của một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên và chống trả trong khoảng nửa giờ. Khi hai người hy sinh, hai cánh quân địch tiếp tục nổ súng vào nhau, cùng bị thương vong và báo về sở chỉ huy: “đã gặp địch mạnh, buộc phải rút lui”.
Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân dẫn lại một đoạn viết trên tạp chí Lướt sóng của Hải quân Sài Gòn thời đó mô tả: “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng Quân lực Việt Nam Cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng (thực tế chỉ có 20 thủy thủ trên tàu C235) gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập tiếp tế cho Mặt trận giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại một dấu vết...”. Đó không chỉ là lời thú nhận thất bại trong ý đồ bắt giữ C235, mà là sự khâm phục của địch về sức chiến đấu quật cường của thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thủy thủ tàu C235 anh hùng.
Trong lúc trận đánh diễn ra phía sau, sáng 1/3, Thuyền phó Đoàn Văn Nhi tập hợp được bảy người gồm Vũ Long An, Lê Duy Mai, Mai Văn Khung, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật, Nguyễn Văn Phong và ông. Hai người bị thương nặng, năm người bị thương nhẹ. Họ dìu nhau lên núi, tìm đường về căn cứ của bến.
Từ đây, dấu vết của những người C235 bắt đầu tách thành nhiều ngả. Ký sự Đường mòn trên biển ghi, khi Đoàn Văn Nhi hỏi có ai gặp Vinh hay không, Vũ Long An trả lời: “Anh Vinh đã lên bờ, tôi gặp. Anh ấy cùng cậu Thứ đi kiểm tra nơi giấu các tử sĩ”.
Mãi về sau, những người sống sót mới biết hai người đã chốt giữ gần nơi tàu nổ để đồng đội rút đi. Cả hai đều bị thương, chống trả lực lượng truy kích trong khoảng nửa giờ rồi hy sinh.
Gần sáng, từ vị trí của nhóm Nhi, tiếng súng dữ dội vọng lại từ khu vực gần nơi C235 tự hủy. Trong những âm thanh hỗn độn, họ nhận ra tiếng AK và đoán bộ phận của Vinh có thể đã gặp địch. Khoảng nửa giờ sau, tiếng AK không còn. Khi ấy, nhóm Đoàn Văn Nhi chưa biết điều gì đã xảy ra với Vinh và Thứ. Mãi về sau, những người sống sót mới biết hai người đã chốt giữ gần nơi tàu nổ để đồng đội rút đi. Cả hai đều bị thương, chống trả lực lượng truy kích trong khoảng nửa giờ rồi hy sinh.
Phía sau, tiếng súng đã lặng. Trước mắt bảy người còn lại là núi đá Hòn Hèo và những cuộc lùng sục vẫn tiếp diễn. Họ dìu nhau lên núi, bắt đầu hành trình tìm đường về căn cứ của bến.
Ngay ngày đầu, việc tìm đường đã trở thành một cuộc dò dẫm giữa vòng vây.
Đoàn Văn Nhi cử Nguyễn Văn Phong và Lâm Quang Tuyến đi trinh sát. Đi hơn một kilômét về phía tây bắc, hai người gặp lực lượng địch đang đào công sự; đổi hướng vẫn gặp. Trở về, Tuyến nói:
“Chúng ta bị bao vây rồi!”
Có lúc phương án “mở đường máu” được tính tới. Sau khi bàn bạc, cả nhóm quyết định chờ tối, tìm cách luồn qua vòng vây.
Đến ngày thứ tư , đói khát đã bào mòn sức lực.
Mỗi chặng chỉ đi được chừng nửa giờ lại phải dừng nghỉ. Trong một hốc cây, Tuyến và Phong tìm thấy chút nước nằm sâu bên trong, lẫn mùn gỗ. Không có vật gì để đựng, Tuyến xé vạt áo, nhúng xuống rồi vắt nước vào miệng cho từng người. Chừng một bát nước chia cho bảy người chẳng thấm vào đâu, nhất là với những người bị thương đã mất nhiều máu. Họ vét cả phần mùn gỗ ẩm trong hốc, chia nhau nhai để lấy nước.
Một con ốc sên từ hốc cây bò ra. Nhi bảo Phong bắt lấy, dùng lưỡi lê gạt vỏ rồi ăn thử.
- Khung hỏi: “Ăn được không anh?”
- Nhi đáp: “Ngọt lắm... ăn được”.
Mấy người còn sức đi tìm thêm. Ốc sên, lá rừng, chút nước đọng trong hốc cây và cả mùn gỗ ẩm trở thành những thứ giúp họ cầm cự để tiếp tục tìm đường.
Cơn khát vẫn chưa buông tha. Nghe tiếng sóng biển phía chân núi, cả nhóm bàn cách xuống tìm nước ngọt. Lâm Quang Tuyến và Hà Minh Thật xung phong đi. Nhưng đến sáng, cả hai vẫn chưa trở lại. Những người còn lại lần theo dấu vết đi tìm; mãi gần tối mới gặp Tuyến đang dò đường quay về. Tuyến kể: “Chúng tôi đi tìm gần đến sáng mới thấy một vũng nước bẩn lẫn bùn ở gần đây. Cậu Thật về đón các anh. Chắc là đi lạc rồi”.
Thật vẫn bặt tin. Không thể chờ thêm, những người còn lại buộc phải tiếp tục tìm đường.
Sau đó, Mai Văn Khung lại quyết định lần xuống phía biển tìm nước. Vũ Long An đi theo, nhưng địa hình đá dựng khiến hai người nhanh chóng mất dấu nhau. Ít lâu sau, An nghe tiếng súng nổ phía dưới, tiếp đó là tiếng loa gọi hàng. Không thể tiếp cận, ông buộc phải quay lại. Những người còn lại khi ấy không biết Khung đã hy sinh hay bị bắt. Mãi về sau họ mới biết ông bị bắt giữ và đến năm 1973 được trao trả.
Sức khỏe của Thuyền phó Đoàn Văn Nhi ngày một xấu đi .
Đến một chặng, ông không thể tiếp tục di chuyển và yêu cầu những người còn sức đi tìm căn cứ rồi quay lại đón mình. Tuyến, Mai và Phong tiếp tục lên đường; đi được một đoạn, họ gặp lại Vũ Long An đang khập khiễng kéo lê khẩu súng. Bốn người nhập lại, tìm đường về bến với hy vọng sớm quay lại đón người thuyền phó.
Nhưng căn cứ ở hướng nào, không ai biết. Không bản đồ, không địa bàn, họ vừa tránh các cuộc lùng sục vừa dò đường giữa vùng núi hiểm trở. Có lúc, nghe tiếng pháo địch nổ phía xa, cả nhóm phán đoán nơi có giao tranh có thể gần khu vực lực lượng ta nên lần theo hướng tiếng súng. Sau ba, bốn giờ vừa đi vừa trườn qua những bụi gai, ngoảnh lại họ vẫn chưa cách xa được điểm xuất phát bao nhiêu. Cuối cùng, bốn người quyết định men xuống bãi cát ven biển. Đi theo đường này dễ bị phát hiện hơn, nhưng họ có thể đi nhanh hơn và còn hy vọng kiếm được cua, ốc để cầm cự.
Ban ngày họ giấu mình trong những bụi cây kín, chờ tối mới tiếp tục đi. Dọc bờ cát, thỉnh thoảng họ kiếm được một quả cam hỏng, con ốc hay con cua.
5 chiến sĩ sống sót cuối cùng của tàu C235. (Ảnh: Bảo tàng Hải quân)
Đêm ấy, khi những con tàu đánh cá ngoài biển đã lên đèn, Lâm Quang Tuyến nhìn thấy một bóng người lội xuống mép nước, đang lúi húi kéo lưới.
Tuyến nói nhỏ với Vũ Long An: “Cậu đi men theo bờ dứa, mình đi vòng phía sau vào thật gần bắt sống, để hỏi đường.”
Mai và Phong núp lại trong bụi cây. Tuyến và An chia hai hướng áp sát. Người kia vẫn đang lúi húi kéo mảnh lưới rách, cho đến khi nghe tiếng lên đạn và tiếng hô bất ngờ phía sau: “Đừng bắn!”
Những người lính yêu cầu ông dẫn tới nơi có du kích. Người đánh cá ấy được Đường mòn trên biển ghi là “anh Q”, người của bến đi kiếm cá. Bị bất ngờ, anh Q vẫn cố liếc nhìn những người trước mặt. Một người gầy yếu, quần áo rách rưới đang chĩa súng vào sườn mình. Trong đầu anh thoáng lên một ý nghĩ:
“Anh em Đoàn 125 đây rồi”.
Anh Q vội hỏi mật khẩu: “Kiến” . An đáp: “ Vàng” .
Không còn nghi ngờ gì nữa. Người của mình đây rồi.
Anh Q ôm chầm lấy An: “Ôi! Các đồng chí ở dưới tàu lên phải không? Chúng tôi đi đón các đồng chí mãi không gặp. Ba hôm trước đây, đồng chí Thật đã tới được căn cứ, dẫn chúng tôi đi tìm...”
Đến lúc ấy, những người còn lại mới biết Hà Minh Thật đã tìm được về căn cứ trước họ; trong những ngày mình tìm đường về bến, người ở bến cũng đang đi tìm họ.
Ngay đêm ấy, bốn người được đưa về căn cứ. Ông Đặng Đức Hạnh – Phó đại đội trưởng bến, cho nấu cháo, làm thịt hai con gà vừa bẫy được để anh em ăn lấy sức.
Các cựu binh C235 Lê Duy Mai, Hà Minh Thật, Lâm Quang Tuyến và Nguyễn Văn/Hồng Phong trở lại Hòn Hèo, nơi họ từng trải qua những ngày bị truy lùng sau trận đánh năm 1968.
Ký sự Đường mòn trên biển, NXB Quân đội nhân dân, 1986 , thuật lại việc nhóm thủy thủ để Thuyền phó Đoàn Văn Nhi ở lại và cuộc quay về tìm ông sau khi gặp được lực lượng bến.
Những ngày băng qua núi đá cũng khiến bàn chân những người không còn giày dép sưng mọng. Thấy đôi chân trần của Thuyền phó Đoàn Văn Nhi phải đặt từng bước trên gai đá, Nguyễn Văn Phong cởi đôi dép mình đang đi đưa cho ông. Nhi cầm đôi dép, tay run run.
Sau khi Khung mất dấu, sức khỏe của Nhi cũng đã gần cạn. Người thuyền phó gọi anh em lại:
“Cứ để tôi ở lại đây... Các đồng chí còn sức... cố gắng đi nhanh lên tìm căn cứ.”
“Đi đi... dùng dằng sẽ chết tất cả. Để mình tôi ở đây chờ Khung và An.”
Không ai chịu rời ông. Nhưng Nhi kiên quyết ra lệnh: “Đi nhanh... rồi đón mình và các cậu ấy.”
Không thể trái lệnh, anh em thu xếp nơi để Nhi ở lại. Không đầy một giờ, anh em đã làm xong công sự, vừa làm chỗ ở, vừa đề phòng thú dữ và địch tới. Tuyến và Phong tìm ốc sên, lá cơm tẻ để lại. Trong lúc mọi người chuẩn bị rời đi, Nhi vẫn giục: “Đi đi... nhanh lên... rồi đón mình.”
Mọi người lần lượt bắt tay người thuyền phó rồi rời đi.
Sau khi gặp được lực lượng bến và được đưa về căn cứ, những người trở về vẫn nhớ lời dặn phải quay lại đón ông.
Sáng hôm sau, khi phía bến chuẩn bị cáng đưa các thương binh đi quân y, Nguyễn Văn Phong đề nghị: “Tôi đề nghị anh cử người đi đón anh Nhi”. Đặng Đức Hạnh nhận đi cùng.
Trước lúc lên đường, người nuôi quân đưa mỗi người vài miếng củ mài luộc. Phong hỏi: “Nếu có nước cháo, chị cho tôi xin một bi đông mang đi cho anh Nhi.” Phong khoác bi đông bên vai, cùng Hạnh trở lại rừng.
Nghe Phong nhắc nơi Nhi được để lại có “cây bàng thối một mảng góc”, Hạnh nói: “Ở đây chúng tôi quen thuộc từng mô đá, cứ nói cây bàng thối một mảng góc là tôi biết rồi. Chỉ độ một tiếng rưỡi đồng hồ là đến nơi”.
Phong sửng sốt: “Một tiếng rưỡi ư? Thế mà chúng tôi phải đi mất 6 ngày đường”.
Khi tới nơi nhóm thủy thủ đã để Nhi nằm lại, Phong nhận ra ngay: “Đây rồi! Đây rồi!”
Bi đông nước cháo mang cho Nhi vẫn còn ấm bên sườn. Nhưng Nhi không còn ở đó.
Dưới lớp lá khô là mảnh băng dính đầy máu đã khô sẫm. Phong và Hạnh tỏa ra tìm. Một nòng súng được phát hiện giấu dưới lá; rồi một khóa nòng ở vị trí khác. Họ tiếp tục lần theo dấu vết rời khỏi nơi Nhi từng nằm. Cách một quãng lại gặp chiếc quần đã xé cụt hai ống, chiếc áo dính nhựa cây và máu, bao thuốc lá còn vài điếu.
Đến bãi cát, dấu vết mất hẳn.
DẤU VẾT CUỐI CÙNG CỦA ĐOÀN VĂN NHI Những dấu vết được tìm thấy lần lượt gồm băng dính máu, các bộ phận của khẩu súng, quần áo và bao thuốc lá. Dấu vết kéo dài tới bãi cát rồi mất hẳn.
Đường mòn trên biển ghi, từ những dấu vết ấy, Hạnh khi đó cho rằng Nhi có thể đã cố xuống phía biển tìm nước và nêu khả năng ông kiệt sức rồi bị sóng cuốn đi. Đó là suy đoán của người đi tìm trong hoàn cảnh lúc ấy.
Cuốn sách không ghi nhận thêm dấu vết nào sau bãi cát để xác định điều gì thực sự đã xảy ra với Đoàn Văn Nhi.
Dấu vết Đoàn Văn Nhi dừng lại ở bãi cát.
Trở về căn cứ, khi những người bị thương lần lượt được đưa đi điều trị, Nguyễn Văn Phong còn ở lại với người của bến. Việc tìm những đồng đội đã hy sinh vẫn chưa dừng lại.
Khi Phong đề nghị Hạnh cùng đi tìm các tử sĩ, Hạnh cho biết tối hôm trước Vũ Long An và Lâm Quang Tuyến đã báo danh sách những người hy sinh, mất liên lạc.
Trước mặt họ, mấy chiến sĩ bến đang chặt những ống pháo sáng thành từng mảnh hình chữ nhật.
“Chúng tôi đang chuẩn bị thứ này để làm bia. Việc này phải sớm mai mới đi được”.
Đường mòn trên biển còn lưu lại hình ảnh tại nơi diễn ra trận đánh cuối cùng của Nguyễn Phan Vinh và Ngô Văn Thứ: hai người được tìm thấy vẫn trong tư thế vươn người về phía trước; xung quanh là những hố đạn ám khói, cây cỏ gãy nát, cháy xám.
Cuốn ký sự cũng thuật lại việc phía bến tổ chức mai táng những người đã hy sinh trên Hòn Hèo. Hạnh dặn phải làm thật chu đáo. Một chiến sĩ đề nghị:
“Tôi đề nghị hướng mai táng để đầu về hướng Bắc, chân về hướng Nam”.
Những nấm mộ được đắp lên giữa chiến tranh; những mảnh kim loại cắt từ ống pháo sáng được chuẩn bị để làm bia.
Nhưng ký sự không cho biết đầy đủ từng người C235 được tìm thấy ở đâu, chôn cất tại vị trí nào. Những thủy thủ sống sót cũng không trực tiếp có mặt trong tất cả các lượt tìm kiếm, chôn cất. Muốn lần lại những dấu mộ ban đầu ấy, chúng tôi phải trở lại với những người đã có mặt ở bến Hòn Hèo từ trước khi C235 vào.
Các cán bộ chiến sĩ, người dân đến thăm Hòn Hèo.
Năm 1968, Hòn Hèo là một trong những bến bí mật trên tuyến vận tải chiến lược Đường Hồ Chí Minh trên biển. Bên cạnh du kích và lực lượng địa phương, tại đây có Đội trinh sát mang mật danh HB19 do Lê Đình Kiến chỉ huy, làm nhiệm vụ quan sát, nắm tình hình trên biển và phối hợp với lực lượng bến đón tàu, tiếp nhận, cất giấu vũ khí từ những chuyến tàu Không số. Trong đội hình ấy, Đặng Đức Hạnh, từng là thuyền trưởng tàu săn ngầm Hải quân, làm Phó đại đội trưởng bến. Đặng Văn Hải là chiến sĩ báo vụ; Huỳnh Hường là cán bộ Hải quân được điều vào làm nhiệm vụ trinh sát. Một người phụ trách thông tin liên lạc, một người bám địa bàn quan sát.
Huỳnh Hường đến Hòn Hèo với kinh nghiệm của một người từng chỉ huy tàu Hải quân. Sinh ngày 25/4/1936 tại Phú Yên, trong một gia đình có truyền thống cách mạng, Huỳnh Hường có cha và hai em trai đều tập kết ra Bắc. Ông được đào tạo tại Trường Cao chuyên Hải quân Trung Quốc, học lớp cán bộ thuyền trưởng Hải quân Quảng Yên, rồi về đội tàu tuần tiễu thuộc Khu tuần phòng 1. Từng làm Thuyền trưởng Tàu 134, tham gia bắt sống phi công Mỹ An-va-rét tại Vịnh Hạ Long, năm 1966, ông được điều về Đoàn tàu không số, sau đó vào chiến khu Hòn Hèo.
Cuối tháng 2/1968, Huỳnh Hường, Đặng Văn Hải cùng những người ở bến nhận lệnh ứng trực đón C235.
Đêm 29/2, từ đài quan sát Hòn Đăng, Huỳnh Hường phát hiện một con tàu từ phía mũi Bàn Thang tiến về Đầm Vân. Nhận định đó là tàu ta, ông vượt dốc đá trở về đơn vị báo tin. Rạng sáng hôm sau, tiếng nổ tự hủy của C235 vọng vào Hòn Hèo. Nhiệm vụ đón tàu phút chốc chuyển thành những cuộc tìm kiếm.
Giữa những đợt càn quét sau đó, những người ở bến tỏa đi theo nhiều hướng qua các gành đá, sườn núi Hòn Hèo. Họ vừa tìm những thủy thủ còn sống để cứu chữa, vừa lần tìm những người đã ngã xuống để chôn cất. Việc tìm kiếm kéo dài qua nhiều lượt, với những nhóm người khác nhau.
Cuộc trở lại tìm Đoàn Văn Nhi của Đặng Đức Hạnh và Nguyễn Văn Phong chỉ là một trong những hướng tìm kiếm ấy.
Ở những nơi khác trên Hòn Hèo, những người của bến cũng đang lần tìm những người đã nằm lại.
Những ai đã tham gia các cuộc đi tìm ấy và còn giữ được dấu vết về những nơi chôn ban đầu?
Một trong những đầu mối đưa chúng tôi tới phần câu chuyện này là Đặng Văn Hải.
Ông Hải nhớ trước khi đọc cuốn sổ tay đồng đội để lại, ông từng nghe chính Huỳnh Hường kể về việc tự tay chôn cất Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh – người bạn thân từ những năm cùng học Hải quân. Nhưng giữa hoàn cảnh chiến tranh, ông chưa kịp hỏi một điều quan trọng:
Nguyễn Phan Vinh được chôn ở đâu?
Huỳnh Hường cũng không còn để có thể hỏi lại.
Ngày 24/8/1971, trong một chuyến công tác cùng Hạnh, Huỳnh Hường gặp phục kích. Theo lời người đồng đội sống sót được lưu lại, Hạnh bị thương nhưng thoát được; Huỳnh Hường trúng đạn vào bụng. Dù kiệt sức, ông vẫn cố bò ra xa khoảng 100 m, vùi cát giấu khẩu súng K59 trước khi hy sinh.
Hạnh sống sót. Cuốn sổ tay bọc vải xám của Huỳnh Hường được ông gìn giữ qua nhiều năm trước khi trao lại cho gia đình liệt sĩ.
Lật từng trang giấy đã ố màu thời gian, một điều trước đó chúng tôi chưa hình dung đầy đủ mới dần hiện ra: cuốn sổ không chỉ viết về C235.
Từ đầu mối Đặng Văn Hải và những thông tin về hành trình của hiện vật, chúng tôi bắt đầu lần tìm cuốn sổ.
Qua những mối liên hệ với Bộ Tư lệnh Hải quân, hành trình cuối cùng đưa chúng tôi tới Bảo tàng Hải quân tại thành phố Hải Phòng.
Tại đây, lần đầu tiên toàn bộ cuốn nhật ký của liệt sĩ Huỳnh Hường được mở ra trước mắt chúng tôi.
Đó là một tập giấy kẻ ô vuông đóng tay, kích thước chỉ 10 × 13cm, bìa cứng, bên ngoài bọc vải ni-lông màu xám. Lật từng trang giấy đã ố màu thời gian, một điều trước đó chúng tôi chưa hình dung đầy đủ mới dần hiện ra: cuốn sổ không chỉ viết về C235.
Trang đầu nắn nót khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” . Trong đó còn có phần chép Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bài thơ Theo chân Bác, Bác ơi! của Tố Hữu; xen giữa là chuyện gia đình, những ngày thiếu ăn, chạy càn, nỗi nhớ quê Phú Yên, tin tức người thân, vợ con.
Cuốn sổ nhật ký của liệt sĩ Huỳnh Hường.
Giữa những trang ghi lại đời sống của một người lính là phần hồi tưởng về Hòn Hèo. Từ đây, những dấu chân năm 1968 bắt đầu hiện lại trên trang giấy.
Những tên đất nối nhau: Hòn Nhọn, Giếng Tiên, Dốc Lếch, Bãi Giữa, mũi Dinh Ông, Bãi Lớn...
Trong phần ghi chép mang tên “Hồi tưởng 5 năm” , Huỳnh Hường lần lại những ngày cùng đồng đội HB19 băng qua núi, đèo, giếng nước và các bãi biển để tìm kiếm, chôn cất những chiến sĩ đã ngã xuống.
Tên người đi cùng được ghi bên những địa danh, lưu lại dấu vết của từng lượt tìm kiếm. Một số ký hiệu viết tắt, tên người và địa danh cũ vẫn cần kiểm tra cách đọc, nhưng phần việc năm xưa hiện lên khá rõ: tìm đồng đội, đưa người hy sinh về chôn cất rồi tiếp tục lên đường.
Kể về máy trưởng Trương Văn Mùi , Huỳnh Hường còn nhớ những nét riêng: người Nam Bộ, trán hói, ít nói. Một số chữ mô tả tình trạng thi thể hiện chưa đọc rõ; bản dẫn có đoạn: “...đầu, 1 tay và 2 chân... tội nghiệp đ/c mình quá”. Nhóm bốn người gồm Hường, Hưng, Nơi, Đi đã đợi trăng lên, khiêng đồng đội vào an táng tại khu vực Bãi Giữa.
Với Chính trị viên Nguyễn Tương , Huỳnh Hường ghi mình cùng một đồng đội chôn cất tại mũi Dinh Ông. Tên người đi cùng trong bản dẫn phiên hiện được đọc là Soi [?], còn cần đối chiếu với nguyên bản.
Cuốn sổ lưu lại cả sự nhọc nhằn của những người đi tìm: “Chôn xong các đồng chí mình người rất mệt lả, nhưng thấy hài lòng việc làm đó của mình”, Huỳnh Hường viết.
Giữa phần hồi tưởng xuất hiện mốc “Sáng 10/3/68”. Huỳnh Hường kể về một cuộc chôn cất mà lúc ấy ông chưa nhận ra người nằm xuống. Chỉ về sau, khi biết danh tính, ông mới hay người mình đã chôn chính là “người bạn thân” - Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh:
Nhật ký liệt sĩ Huỳnh Hường.
“Sáng 10/3/68. Không ngờ tay tôi lại đặt nơi yên nghỉ cuối cùng của người bạn thân, Đ/c Thuyền trưởng Ngô Phan Vinh (Nguyễn Phan Vinh-PV), quê Điện Bàn, Quảng Nam…”
Những dấu hiệu trên người được chôn cất được Huỳnh Hường ghi lại cẩn trọng: “chiếc áo bờ-lu vải Φ ⊡ có khóa kéo fec mơ tuya, 1 cái quần đùi”, những vết thương được đồng đội băng bó từ trước. Ông chép: “2 chân có 2 vết thương đã được băng lại”, rồi giải thích vì sao mình không thể nhận ra người nằm xuống: “người chết đã lâu, khô nước chỉ còn da bọc xương nên không nhận ra người bạn mình”.
Về sau, Huỳnh Hường đem những dấu hiệu ấy kể lại với các thủy thủ C235 còn sống. Trên trang giấy xuất hiện các tên An, Phong, Tuyến, Thật, Mai. Theo ghi chép, họ “cho biết đấy là Vinh” — người ông gọi là “người Thuyền trưởng thân yêu của họ”. Với Huỳnh Hường, đó không chỉ là người chỉ huy C235, mà còn là người bạn từ những năm tháng tuổi trẻ.
Trang viết ngược về tháng 8/1955, khi “14 anh em được tuyển ra Bộ Tổng đi học (8/55)”, rồi những năm tháng học Hải quân. Huỳnh Hường nhắc tới “trường Cao luyện Hải quân” và những ngày ở Thanh Đảo:
“Vinh sang trước 1 năm, tôi sang sau cùng nhập lại ở Thanh Đảo, nhiều bữa 2 đứa rủ nhau đi dạo biển, dạo phố.”
TÊN NGƯỜI THUYỀN TRƯỞNG GIỮA TRƯỜNG SA Sau này, tên người Thuyền trưởng C235 được đặt cho đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa. Trong quần đảo Trường Sa, Phan Vinh là hòn đảo duy nhất mang tên một con người – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Phan Vinh.
Có lần, hai người vào cửa hàng mậu dịch chọn mua “1 tấm đắp (chăn-PV) đẹp nhất”. Tình bạn tiếp tục sau khi họ trở về nước. Huỳnh Hường viết: “Vinh lớn hơn tôi 1 tuổi, số phận long đong thế nào vẫn chưa vợ như mình”. Dù công tác ở những đơn vị khác nhau, họ vẫn còn những lần gặp lại.
Một người từ biển vào, một người làm trinh sát chờ ở bến. Hơn mười năm sau những ngày Thanh Đảo, họ gặp lại nhau trong hoàn cảnh không ai có thể biết trước. Khi hay người mình đã chôn chính là Vinh, Huỳnh Hường viết:
“Tai nạn thì gặp nhau mà mình đã bất lực: làm được gì, chỉ đứng đó mà ngó và tự đào lỗ để chôn cất người bạn thân của mình”.
Rồi lời kể chuyển thành tiếng gọi:
“Vinh ơi! Vinh đã làm tròn nghĩa vụ của 1 người con đối với Tổ quốc”.
Sau tiếng gọi bạn là câu: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Ở cuối phần viết về Nguyễn Phan Vinh, Huỳnh Hường để lại một lời hẹn:
“Mình cũng sẽ nhớ mãi và sau này nếu còn sống, mình sẽ kể lại sự tích của Vinh cho các bạn cũ mình cùng nghe.”
Lời hẹn dừng lại trên trang giấy. Năm 1971, Huỳnh Hường cũng hy sinh tại Hòn Hèo, không kịp trở về trong ngày hòa bình.
Gần sáu thập niên sau, những tên người, tên đất ông ghi lại vẫn còn đó: Hòn Nhọn, Giếng Tiên, Bãi Giữa, mũi Dinh Ông, những gành đá, trảng bãi quanh Hòn Hèo.
Nhưng từ những nấm mộ được đắp giữa chiến tranh đến các phần mộ hôm nay là một quãng đường chưa được nối lại.
Ai đã trở lại những nơi ấy sau chiến tranh? Những cuộc cất bốc diễn ra khi nào? Có sơ đồ, biên bản hay người chứng kiến nào còn được ghi nhận? Những đồng đội được tìm thấy, chôn cất năm ấy cuối cùng đã được đưa về đâu?
Cuốn nhật ký không thể tự trả lời phần còn thiếu. Nhưng nó giữ lại những đầu mối mà thời gian chưa xóa được: tên người, tên đất và một số nơi chôn cất ban đầu.
Từ những dấu mộ trên Hòn Hèo đến các phần mộ hôm nay, còn những mắt xích phải tìm lại. Và ngoài những dấu vết trên bờ, vẫn còn một khoảng trống khác của Tàu C235 nằm dưới mặt biển.
Cuộc tìm kiếm vẫn chưa thể dừng lại.
NGUỒN TƯ LIỆU: Lịch sử Đảng bộ Lữ đoàn 125 Hải quân (1961–2019), NXB Quân đội nhân dân; Đường mòn trên biển của Nguyễn Tư Đương, NXB Quân đội nhân dân, 1986; Nhật ký liệt sĩ Huỳnh Hường hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hải quân; cùng lời kể của các cựu chiến binh, nhân chứng phóng viên trực tiếp tiếp cận. Một số tên người, địa danh, ký hiệu trong nhật ký viết tay chưa đọc rõ được ghi chú trong bài để tiếp tục đối chiếu.
Ngày xuất bản: Tháng 10/2026 Thực hiện: Ngọc Thanh-Hoàng Nhật-Tùng Quang-Hồng Vân-Thùy Linh-Minh Thu Ảnh: Thùy Linh (Bài viết có sử dụng tư liệu của Bảo tàng Hải quân và Lữ đoàn 125 cung cấp)
Bài 1: Những người cuối cùng rời Tàu C235
